Espresso - Đẳng cấp cà phê Ý

09:25 |
Trong giới thưởng thức cà phê, chắc chắn Espresso không còn là một cái tên xa lạ. Sinh ra từ những năm 1930 tại nước Ý xa xôi, Espresso dần mang hương vị hấp dẫn và tinh tế của mình lan tỏa khắp thế giới. Hãy cùng tìm hiểu cách mà Espresso đã trở thành một biểu tượng cùng Capheking.

Định nghĩa Espresso


Cà phê espresso được pha chế bằng cách dùng nước nóng nén dưới áp suất cao (khoảng 9 đến 10 bar) qua bột cà phê được xay mịn. Pha chế bằng phương pháp này cà phê sẽ rất đậm và trên mặt có một lớp bọt màu nâu (crema trong tiếng Ý) đóng phần quan trọng trong việc tạo hương thơm cho cà phê. Cà phê espresso thường được uống bằng tách dày được hâm nóng trước, dung tích vào khoảng 40ml và có hoặc không pha đường tùy theo khẩu vị. Cà phê espresso thường được phục vụ kèm theo một ly nước.
Cà phê espresso là loại cà phê thường được uống ở Ý và Tây Ban Nha, những nơi mà người ta gọi nó đơn giản là cà phê, và hiện nay đã lan tỏa đến nhiều vùng miền trên thế giới. Cà phê espresso có nguồn gốc ở Ý, nơi xuất hiện cách pha cà phê này vào khoảng năm 1930. Espresso bắt nguồn từ tiếng Ý espressivo, từ diễn tả một thức ăn uống được pha chế đặc biệt dành cho thực khách, bắt nguồn từ lúc đầu tiên khi chỉ có cà phê espresso trong các quán bar.

Nguyên liệu và cách pha chế


Nguyên liệu pha cà phê espresso vẫn là các hạt cà phê dùng cho các loại cà phê khác nhưng hạt cà phê thường được rang sẫm màu hơn. Điều này rất cần thiết vì qua cách pha dưới áp suất, axít tự nhiên của hạt cà phê bị hòa tan nhanh hơn các phương pháp pha chế thông thường rất nhiều. Cà phê espresso pha từ hạt cà phê thường vì thế sẽ có vị chua khó chịu. Người ta chống lại hiện tượng này bằng cách rang lâu hơn để giảm hàm lượng axít trong hạt cà phê. Một điểm yếu là khi rang lâu sẽ làm giảm đi hương thơm của cà phê. Nghệ thuật rang cà phê vì thế chính là ở chỗ tìm được sự cân bằng giữa hàm lượng axít và hương thơm cho mỗi loại hạt cà phê hay từng cách pha trộn các hạt cà phê. Khi rang cà phê sẫm màu như vậy hạt cà phê mất đi hàm lượng caffeine nhưng do có vị đậm đà nên cà phê espresso thường lại được cho là một loại cà phê đậm.  
Thường loại cà phê Arabica có chất lượng cao được dùng làm cà phê espresso. Để cà phê espresso crema nhiều và đặc hơn người ta pha trộn hạt cà phê Arabia với Robusta, tuy nhiên loại này sẽ không có được hương thơm và vị đậm đà như Arabica. Những người trong giới thưởng thức cà phê sành điệu vẫn tranh luận sôi nổi là 100% Arabica hay phương thức pha trộn 60% Arabica và 40% Robusta sẽ mang lại một ly cà phê espresso hoàn hảo. Viện quốc gia về cà phê espresso của Ý đưa ra các tiêu chuẩn sau đây:
  • Lượng cà phê cần dùng: 9 g ± 0,5 g
  • Nhiệt độ nước lúc chảy ra khỏi máy: 90 °C ± 2 °C 
  • Nhiệt độ cà phê trong tách: 67 °C ± 3 °C 
  • Thời gian chảy qua: 25 giây ± 2,5 giây 
  • Độ nhớt ở 45 °C: 1,5 mPa s 
  • Lượng mỡ tổng cộng: > 2 mg/ml 
  • Hàm lượng caffeine: 40 mg/tách 
  • Dung tích trong tách (bao gồm crema): 25 ml ± 2,5 ml.

Ấm moka của Alfonso Bialetti
Có thể dùng ấm pha cà phê espresso để pha loại cà phê này. Thuộc vào trong số các ấm pha cà phê espresso cổ điển là kiểu moka pot "Moka Express" do Alfonso Bialetti thiết kế năm 1933, loại vẫn còn được dùng trong nhiều gia đình trên toàn thế giới ở hình dáng nguyên thủy của nó. Vì ở loại ấm này còn xa mới đạt đến áp suất 8 bar (nhiều nhất chỉ có thể là 1,5 bar) nên chính xác mà nói thì đây không phải là cà phê espresso.
Để pha cà phê espresso ngon và có nhiều crema phải cần dùng đến một máy pha cà phê espresso. Trong máy này nước nóng 88 °C đến 94 °C được ép với áp suất ban đầu vào khoảng 9 bar qua bột cà phê được xay rất nhuyễn. Thời gian chảy qua phải là 25 giây. Nếu lượng nước phù hợp chảy qua nhanh hơn các hương vị không được hòa tan hết, nước chảy qua lớp bột cà phê quá chậm sẽ có quá nhiều chất đắng hòa tan theo. Máy pha cà phê espresso hiện nay có giá không dưới 1 trăm triệu. Thật là một phương pháp pha cà phê cầu kì và kiểu cách, tuy nhiên hương vị mang lại của nó sẽ làm hài lòng cả những người dùng khó tính nhất.


Các biến thể từ espresso


Có khá nhiều loại cà phê (cách thưởng thức)  khác nhau có thể pha bắt nguồn từ espresso, nhà thiết kế Lokesh Dhakar đã giúp chúng ta phân biệt sự khác nhau giữa 8 loại cà phê nổi tiếng nhất được pha chế từ espresso chỉ bằng một hình vẽ đơn giản duy nhất dưới đây :
Photo of Lokesh Dhakar – Under Creative Commons Licenses


Qua đó, chúng ta có thể nhìn thấy Americano thực ra là cà phê Espresso pha loãng. Tuy CappuccinoLatte có công thức giống nhau nhưng thực ra cách pha chế lại khác nhau còn Mocha thì được phủ thêm một lớp Chocolate vào công thức. Macchiato thường được uống với một lát vỏ chanh cho thơm. Bạn có thể theo dõi các bài viết khác của capheking để hiểu thêm về các loại cà phê nổi tiếng này.

Để có thể cảm nhận rõ nét hơn về các loại hạt cà phê Arabica và Robusta, tham khảo bài viết: 


Phân biệt cà phê Arabica và Robusta

19:09 |

Giới thiệu: 

Cà phê thuộc họ Rubiaceae, có khoảng 500 chi và trên 6.000 loài thuộc họ này. Gồm hầu hết là  cây bụi và cây nhiệt đới mọc ở tầng dưới của rừng. Trong đó, Coffea (Cà phê) là loài có giá trị kinh tế cao nhất.



 Coffea có thể có hơn 25 loài chính, phân bố từ vùng sản sinh ra loại cây này cho tới vùng nhiệt đới châu Phi và một số đảo ở Ấn Độ Dương, đặc biệt là Madagascar. Các loài cây cà phê có dạng thân gỗ, có thể ở dạng cây bụi hoặc cây nhỏ cao hơn 10 mét, lá có màu vàng, màu xanh đậm, đồng hoặc nhuốm màu tím.

Hai loại có giá trị kinh tế nhất của cà phê là Arabica (còn gọi là cà phê chè) – chiếm hơn 60% sản lượng thế giới – và Robusta (còn gọi là cà phê vối). Hai loại khác chiếm tỷ lệ rất nhỏ là LibericaExcelsa (còn gọi là cà phê mít)

1) Arabica:

Là loại cà phê có hạt hơi dài và dẹp, được trồng ở độ cao trên 600m so với mực nước biển, phù hợp khí hậu mát mẻ.
Cây cà phê giống Arabica có dạng cây bụi to, lá hình bầu dục, rễ sâu, màu xanh thẫm, trái có hình oval, thường chứa hai hạt dẹp, còn loại trái chỉ chứa một hạt được gọi là peaberry (hay còn gọi là cà phê Culi).
Cà phê Arabica thường dễ bị sâu bệnh hơn Robusta. Arabica được trồng trên khắp châu Mỹ La tinh (đặc biệt là Brazil), Trung và Đông Phi, Ấn Độ, Việt Nam (cao nguyên) và một số nơi tại Indonesia. Cà phê Arabica có sản lượng chiếm đến 2/3 lượng cà phê hiện nay trên thế giới.
Cách chế biến là điểm tạo ra sự khác biệt giữa Arabica và Robusta. Trái cà phê Arabica sau khi được thu hoạch sẽ được lên men (ngâm nước cho nở…),  sau đó rửa sạch rồi sấy. Chính vì thế, vị của Arabica hơi chua, đây được coi là một đặc điểm cảm quan của hạt cà phê Arabica. Vì thế, loại cà phê này có hậu vị khá đặc biệt, không phải là vị chua, mà phải chuyển từ chua sang đắng (kiểu chocolate) sau khi nuốt. Nếu người uống có cảm nhận đúng như vậy thì đích thị là cà phê ngon. Người ta thường ví vị chua đó giống như khi ăn chanh, sẽ thấy rất chua, nhưng ngay lập tức thấy được vị đắng của vỏ ngay trong miệng. Chính điều đó tạo nên đặc điểm độc đáo của hạt cà phê Arabica.

2) Robusta:

Là loại cà phê có hạt hình bầu dục, được trồng ở độ cao dưới 600m, khí hậu nhiệt đới, cho nên phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới như Tây và Trung Phi, Đông Nam Á và Brazil. Đây là giống cà phê được trồng và sử dụng phổ biến nhất ở nước ta. Tổng sản lượng cà phê Robusta chiếm 1/3 lượng cà phê tiêu thụ trên toàn thế giới.
Robusta có dạng cây bụi hoặc cây nhỏ, có thể cao đến 10 mét khi trưởng thành, hệ thống rễ nông nhưng có sức sống rất mạnh mẽ, ít bị dịch bệnh và sâu hại. Trái cà phê có hình hơi tròn chứa hai hạt bình bầu dục và nhỏ hơn hạt Arabica.
Cà phê Robusta được sấy trực tiếp, chứ không phải lên men, nên vị đắng chiếm chủ yếu, loại này uống "phê" hơn, có cảm giác hơn nên phù hợp với thị hiếu người Việt. 


Một vài hình ảnh phân biệt hai loại cà phê phổ biến này:



3) Một vài nét về cà phê Việt Nam:


Tại Việt Nam, cà phê được trồng chủ yếu tại vùng Cao nguyên trung phần hay còn gọi là Tây Nguyên – bao gồm các tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng, Kom Tum, Gia Lai – chiếm hơn 72% diện tích và 92% sản lượng cả nước.

Robusta là cây cà phê chủ lực của Việt Nam, chiếm tới 95% diện tích gieo trồng, chủ yếu trồng tại Tây Nguyên và một số tỉnh Đông Nam Bộ như Đồng Nai, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu.

Arabica chỉ chiếm khoảng 5% tổng diện tích và 8% tổng sản lượng cà phê, được trồng rãi rác ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, ,…kéo dài đến các tỉnh Miền Trung như Thanh Hóa, Quảng Trị, Quảng Nam,….. và một phần ở tỉnh Lâm Đồng.


Để có thể cảm nhận rõ nét hơn về hương vị hai loại cà phê Arabica và Robusta, tham khảo bài viết: